Friday, 27/11/2020 - 03:35|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường TH An Ninh D

KINH NGHIỆM GIÚP CÁC EM NHỚ BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG ANH

KINH NGHIỆM GIÚP CÁC EM NHỚ BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG ANH
         Để đảm bảo việc dạy và học Tiếng Anh có hiệu quả thì trước hết người giáo viên phải biết được vai trò của mình, nắm được các nguyên tắc và các mục tiêu của môn học. Bên cạnh đó để giúp học sinh nhớ bảng chữ cái Tiếng Anh lâu hơn thì giáo viên cần:
         1. Sử dụng một số kĩ thuật trong dạy đọc bảng chữ cái nhằm kích thích sự chú ý của học sinh:
          a. Giáo viên đọc thứ tự từ a đến z.
          - Giáo viên  chỉ vào lần lượt từng chữ cái theo thứ tự từ a đến z, học sinh nghe và nhắc lại đồng thanh nhiều lần. Sau đó gọi vài học sinh đọc trước lớp,  khác nghe nhận xét. Giáo viên nhận xét. Sau đó, Giáo viên yêu cầu học sinh đọc trong nhóm( 1học sinh chỉ vào chữ cái, học sinh khác  đọc, học sinh còn lại nhận xét. Giáo viên quan sát và giúp đỡ. Cứ như thế lần lượt cho đến hết các học sinh khác trong nhóm.
           b. Giáo viên đọc những chữ cái có cách đọc gần giống nhau hoặc dễ nhằm lẫn với Tiếng Việt.
           - Giáo viên xếp các từ  có cách đọc gần giống nhau vào 1 nhóm. vd: a-h; b-c-d-e-g-p-t-v; a-k-j; q-u-w; i-y; l-m-n-f. Giáo viên gíup học sinh phân biệt cách đọc những nhóm chữ cái này kĩ hơn. Giáo viên đọc theo nhóm, ví dụ: a/ei/, h/eich/, cho hs nhắc lại đồng thanh, cá nhân, sau đó giáo viên chỉ vào chữ cái đó, yêu cầu học sinh đọc to hoặc giáo viên đọc to chữ cái đó, học sinh nghe và phân biệt đó là chữ cái “a hay h”. Cứ như thế đối với các nhóm chữ cái còn lại.
             - Đối với những cặp chữ cái học sinh dễ đọc nhằm với Tiếng Việt ví dụ: như: s đươc phát âm là /es/, còn x được phát âm là /esk/; tương tự như vậy e/i:/- i/ ai/; a/ei/ -r/ a:/, trong những trường hợp này, giáo viên cần phát âm rõ ràng những âm cuối và hướng dẫn rõ cách phát âm trong Tiếng Anh và Tiếng Việt để học sinh dễ nhận biết và đọc chính xác hơn.
c.Gíao viên đọc lộn xộn, không theo thứ tự bảng chữ cái. Giáo viên đọc từ trên xuống, từ dưới lên, hoặc bất cứ chữ cái nào. Giáo viên đọc, học sinh nghe và nhắc lại đồng thanh, cá nhân, học sinh nhận xét, giáo viên nhận xét. Sau đó, giáo viên đọc, hinh sinh nghe và chỉ vào chữ cái hoặc giơ thẻ chữ cái lên và nhắc lại, hoặc giáo viên chỉ vào chữ cái, học sinh nhìn, giơ thẻ chữ cái lên và đọc to.
              2. Để kiểm tra mức độ hiểu của học sinh, sau khi giáo viên đọc lại các từ, giáo viên gọi vài cá nhân học sinh đọc lại trước lớp nhằm khắc phục lỗi phát âm nếu có. Sau khi giới thiệu cách đọc bảng chữ cái thì giáo viên tổ chức cho học sinh chơi một số trò chơi nhằm thay đổi không khí cũng như khắc sâu thêm bài học:
              - Giáo viên nói từ bắt đầu bằng chữ a( ví dụ: apple), học sinh 1 nói từ bắt đầu bằng chữ b( vd: book), học sinh 3 nói từ bắt đầu bằng chữ c( vd: cat), học sinh 4 nói từ bắt đầu bằng chữ d( vd: dog) và cứ tiếp tục như thế cho đến chữ cái cuối cùng hoặc hết lượt các học sinh. Trong quá trình nói, học sinh nào đến lượt nhưng không nói được thì bị trừ đi một điểm. Đến khi kết thúc trò chơi, bạn nào bị trừ nhiều điểm thì bạn đó sẽ bị phạt hát một bài hát Tiếng Anh hoặc làm tượng…
               - Giáo viên chia học sinh làm 2 đội. Đội 1 nói từ bắt đầu bằng chữ a( vd: ant), đội 2 cũng nói từ bắt đầu bằng chữ a(vd: apple). Cứ như thế, trong vòng một phút đội nào nói được nhiều từ hơn là đội thắng cuộc.
                - Dạy đọc chữ cái abc thông qua bài hát. Giáo viên hát từng câu, học sinh nghe và hát theo đồng thanh, nhóm, cặp, cá nhân. Giáo viên hát cả bài, học sinh nghe và hát đồng thanh, nhóm, cặp, cá nhân. Giáo viên hướng dẫn học sinh hát thi đua giữa các nhóm, cặp, cá nhân. Học sinh nhận xét, giáo viên nhận xét và tuyên dương nhóm, cặp, cá nhân hát hay, đúng nhịp, thuộc lời và có biện pháp giúp đỡ những trường hợp hát chưa tốt.
                 - Giáo viên hướng dẫn học sinh chơi trò sắp xếp các mẫu tự thành từ có nghĩa. Giáo viên viết các chữ cái không theo trật tự đúng và yêu cầu học sinh sắp xếp lại thành từ có nghĩa. Vd: act-cat, ogd-dog...học sinh nào xếp được nhiều từ hơn là người thắng cuộc.
                 - Giáo viên đánh vần bất cứ từ nào( vd: p-e-n), học sinh nghe và nói đó là từ gì. Ở trò chơi này, giáo viên có thể chia hôc sinh làm 2 nhóm, nhóm 1 đánh vần, nhóm 2 nghe và nói đó là từ gì và ngược lại nhóm 2 đánh vần, nhóm 1 nói. Cứ như thế, mỗi lần nói đúng thì được một điểm, nhóm nào được nhiều điểm hơn là nhóm thắng cuộc.
                 - Slap the board.(vỗ bảng ) Giáo viên viết các chữ cái học sinh mới vừa học, gọi 2 nhóm học sinh lên bảng (mỗi nhóm từ 4 -5 em), yêu cầu các em đứng cách xa bảng một khoảng cách bằng nhau. Gíao viên đọc, lần lược từng  học sinh ở 2 nhóm chạy lên bảng và vỗ vào từ được gọi. Học sinh nào vỗ từ trên bảng trước thì ghi một điểm, nhóm nào ghi được nhiều điểm hơn là nhóm chiến thắng.( ở trò chơi này, giáo viên có thể thay thế bằng cách giáo viên đọc, học sinh nghe và đưa thẻ chữ cái tương ứng lên)
                Ví dụ: Giáo viên viết các chữ cái lên bảng, đọc to bất cứ chữ cái nào, học sinh chơi.
           H    S     Q    W    E    R   T  Y   U   I    O    P   L   K         
           D    A    Z     X    C     V     B     N      M       F     G       
              - Bingo: Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại đồng thanh các chữ cái, mỗi em chọn 5 chữ cái bất kì trên bảng. Giáo viên đọc các chữ cái trên bảng nhưng không theo thứ tự. Học sinh đánh dấu vào chữ cái đã chọn khi nghe giáo viên  đọc chữ cái đó. Học sinh nào có cả 5 chữ cái đã được đánh dấu tích thì hô “bingo”. Học sinh đó là người chiến thắng.
             - Guess the word: Giáo viên  chia học sinh làm 2 nhóm. Đại diện học sinh nhóm 1  nói  1 chữ cái nào đó không ra tiếng, các học sinh còn lại của nhóm 2 nhìn khẩu hình miệng của bạn mình và đoán đó là chữ cái gì. Sau đó đến lượt nhóm 2. Cứ như thế nhóm nào đoán được nhiều chữ cái hơn là nhóm thắng cuộc. Hoặc giáo viên nói từ bắt đầu a có nghĩa là một loại quả, học sinh nghe và đoán: apple”...cứ như thế học sinh nào đoán được nhiều từ là người thắng cuộc.
            - Pass the ball: Học sinh chơi theo nhóm hoặc cả lớp. Một học sinh nói một từ ( vd: book) và truyền bóng cho bạn khác trong nhóm và nói”a”, bạn đó có nhiệm vụ nói từ khác bắt đầu bằng chữ cái”a”( vd: ant), và cứ như thế cho đến hết lượt. Nhóm nào xong trước thì thắng trong trò chơi này.
              - Ngoài ra giáo viên cũng có thể sử dụng các vật thật để ôn lại các từ chỉ dụng cụ học tập, màu sắc, đồ chơi, thú cưng …vd: giáo viên chỉ vào quyển sách và hỏi” What is it?”, có một vài học sinh có thể không biết trả lời ”It’s a book”, lúc đó giáo viên có thể gợi ý bằng cách đánh vần ”bi-ơu-ơu-kei”. Sau khi nghe giáo viên đánh vần như vậy, học sinh có thể biết được câu trả lời là”It’s a book” một cách dễ dàng hơn
           - Bên cạnh đó, tôi thường tổ chức cho các em chơi trò giải đáp ô chữ, sắp xếp tranh theo bảng chữ cái và yêu cầu các em đánh vần lại những từ  mà trong quá trình các em nói, giáo viên nghe chưa rõ cũng như thường xuyên yêu cầu các em đánh vần tên mình, tên bạn hoặc bất cứ từ nào mới mà các em gặp, nhằm để giúp các em khắc sâu thêm bảng chữ cái cũng như góp phần tạo không khí sôi nổi trong môi trường học Tiếng Anh.
           Trên đây là một số kinh nghiệm tôi áp dụng trong quá trình dạy bảng chữ cái. Và qua thực tế, tôi nhận thấy các em có nhiều chuyển biến tích cực hơn trong học tập, đặc biệt ở các tiết thực hành nói, đa số các em mạnh dạn, hăng hái phát biểu, tập trung vào thực hành nhiều hơn. Hầu hết các em đều chuẩn bị bài trước khi đến lớp, biết tranh thủ thời gian thực hành nói, hát được bài hát bảng chữ cái Tiếng Anh và đánh vần được tên mình. Từ đó, các em ngày càng yêu thích môn học và đến lớp đều đặn hơn. Tỷ lệ học sinh xếp loại khá giỏi, hoàn thành từng bước tăng lên đáng kể và không có  học sinh yếu hoặc chưa hoàn thành. Sự tiến bộ của các em được thể hiện rõ qua kết quả từng năm học.

Bài tin liên quan
Thông báo, phổ biến
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Hôm qua : 93
Tháng 11 : 2.975
Năm 2020 : 64.888